QUỸ HỖ TRỢ BỆNH NHÂN UNG THƯ - NGÀY MAI TƯƠI SÁNG

Supportive Fund for Cancer Patients - Bright Future

Tài liệu

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ PHÒNG CHỐNG UNG THƯ ( PHẦN 3)

Ngày cập nhật:29-07-2016 0 Bình luận Chia sẻ:

Sàng lọc, phát hiện sớm UT là quá trình tìm kiếm những dấu hiệu sớm của bệnh UT trên những người bề ngoài khoẻ mạnh, chưa hề có triệu chứng của bệnh.

 Phần 3

PHÁT HIỆN SỚM MỘT SỐ BỆNH UNG THƯ THƯỜNG GẶP
 
 

1. KHÁI NIỆM VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHÁT HIỆN SỚM

1.1. Khái niệm phát hiện sớm
Sàng lọc, phát hiện sớm UT là quá trình tìm kiếm những dấu hiệu sớm của bệnh UT trên những người bề ngoài khoẻ mạnh, chưa hề có triệu chứng của bệnh. Sàng lọc UT còn được gọi là phòng bệnh cấp 2, nghĩa là đi tìm những dấu hiệu sớm nhất của một bệnh UT, để có thể phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, làm tăng tỷ lệ chữa khỏi và giảm tỷ lệ tử vong do UT.
Khả năng phát hiện sớm UT phụ thuộc vào từng bệnh UT. Không phải hơn 200 bệnh UT nói trên đều có thể phát hiện được sớm. Một số UT có thời gian tiềm ẩn khá dài trong khi một số lại phát triển rất nhanh, khi phát hiện được thì đã ở giai đoạn muộn. Những bệnh UT có thể phát hiện được sớm thường là phát sinh ở những vị trí, cơ quan dễ tiếp cận bằng những phương tiện chẩn đoán hiện nay (như UT vú, cổ tử cung, da, tuyến tiền liệt, đại - trực tràng,…). Đối với các UT ở sâu, các xét nghiệm hiện nay chưa đủ khả năng phát hiện khi khối u còn rất nhỏ.
1.2. Tầm quan trọng của phát hiện sớm
Ung thư là bệnh có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Cho đến nay, kết quả điều trị UT phụ thuộc chủ yếu vào việc phát hiện bệnh ở giai đoạn nào. Ở giai đoạn sớm thì có thể chữa khỏi hoàn toàn nhiều loại bệnh UT. Ngược lại, ở các giai đoạn muộn, điều trị vừa tốn kém, vừa ít hiệu quả, chủ yếu chỉ có thể kéo dài và giảm nhẹ triệu chứng bệnh. Vì vậy, phát hiện UT ở giai đoạn sớm là vô cùng quan trọng, là cơ hội may mắn cho bất cứ ai để chữa khỏi bệnh.
2. PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ VÚ
Ung thư vú là loại UT thường gặp nhất ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới và Việt Nam. Trong số các UT ở nữ, UT vú chiếm tới 35%. Bệnh được phát hiện ở giai đoạn càng sớm thì tỷ lệ chữa khỏi bệnh càng cao. Tỷ lệ sống thêm sau 5 năm giảm dần khi bệnh được phát hiện và điều trị muộn hơn. Tỷ lệ này là 100% nếu được phát hiện và điều trị ở giai đoạn tiền lâm sàng (giai đoạn 0, giai đoạn chưa xâm lấn), giảm xuống 95% nếu được phát   hiện và điều trị ở giai đoạn I (đường kính khối u dưới 2cm, hạch bạch huyết vùng nách chưa bị ảnh hưởng, chưa có dấu hiệu di căn), giảm xuống 80% ở giai đoạn II (đường kính khối u 2-5cm, hạch nách bị ảnh hưởng, chưa có dấu hiệu di căn), 72%  ở giai đoạn III (đường kính khối u trên 5cm, hạch nách bị ảnh hưởng nhưng chưa di căn ra ngoài phạm vi vú và hạch nách), và đến giai đoạn IV (khối u to và di căn) chỉ còn 25%.
Có ba phương pháp để phát hiện sớm ung thư vú theo trình tự từng bước như sau:
2.1. Tự khám vú
Tự khám vú là phương pháp đơn giản, không tốn kém, nếu được thực hiện đúng có thể giúp người bệnh phát hiện sớm các khối u ở vú, được điều trị sớm và vì vậy tiên lượng tốt hơn. Phương pháp tự khám vú được khuyến cáo tiến hành hằng tháng sau khi sạch kinh 5 ngày đối với phụ nữ từ 20 tuổi trở lên.
Các bước tiến hành theo thứ tự được mô tả như sau:
 
 

Chuẩn bị

Cởi áo, nơi tiến hành tự khám vú tốt nhất ở buồng ngủ hoặc ở buồng tắm, có đầy đủ ánh sáng, có thể ngồi trên ghế hoặc đứng miễn là thoải mái.
 

Quan sát

- Xuôi tay, quan sát xem có các thay đổi ở vú: u cục, dầy lên, lõm da hoặc thay đổi màu sắc da.
- Đưa tay ra sau gáy, sau đó quan sát lại.
- Chống tay lên hông làm cử động cơ ngực lên xuống bằng động tác nâng vai lên hoặc hạ vai xuống. Động tác này làm rõ hơn các thay đổi ở vú (nếu có).
 

Sờ nắn

- Nặn nhẹ đầu vú xem có dịch chảy ra hay không?
- Đưa tay phải ra sau gáy. Dùng tay trái sờ nắn vú phải, 4 ngón tay đặt sát vào nhau thành một mặt phẳng, ép đều đặn lên các vùng khác nhau của tuyến vú vào thành ngực theo hướng vòng xoáy ốc từ đầu vú ra phía ngoài.
- Kiểm tra từng vùng của vú và cả về phía hố nách.
- Làm tương tự với vú bên kia.
 

Tư thế nằm

- Nằm ngửa thoải mái.
- Đặt một gối mỏng ở dưới lưng bên khám.
- Lặp lại quá trình khám như ở tư thế đứng.
- Chuyển gối, làm lại các bước cho bên vú còn lại.
 

Những dấu hiệu cảnh báo bệnh ung thư vú

- Khối u không đau ở ngực.
- Thường xuyên bị ngứa và rát quanh núm vú.
- Núm vú bị rỉ máu, tiết dịch khác thường hoặc thụt vào, co lại.
- Làn da trên vú bị sần da cam và dày lên hoặc bị lún xuống, có nếp gấp.
- Có hạch ở hố nách.
Khi một phụ nữ có những dấu hiệu trên, chưa hẳn đã là UT vú, nhưng cần đến khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để được khám và chẩn đoán chính xác.
2.2. Khám vú tại cơ sở y tế chuyên khoa
Phụ nữ từ 30 tuổi trở lên, nên định kỳ đến khám vú tại các cơ sở y tế chuyên khoa  từ 1-3 năm một lần. Đối với phụ nữ từ 40 tuổi trở lên, cần định kỳ đến khám mỗi năm một lần. Khi phát hiện được khối u vú, có hạch nghi ngờ, thầy thuốc sẽ cho tiến hành các xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán xác định.
2.3. Chụp X quang tuyến vú
 Phụ nữ từ 40 tuổi trở lên cần định kỳ đi chụp X quang tuyến vú (đồng thời với khám vú tại cơ sở y tế). Chụp X quang tuyến vú có thể phát hiện các tổn thương bất thường ở tuyến vú ngay cả khi chưa sờ thấy khối u.
Đối với những phụ nữ có nguy cơ cao như đã từng xạ trị vùng ngực, gia đình có người bị UT vú hoặc UT buồng trứng, mang gien hoặc mắc một số hội chứng di truyền, hoặc bản thân bị u vú, UT vú đã điều trị thì cần đi khám sớm hơn và theo lịch cụ thể tùy từng trường hợp. 

 
Chụp X-quang tuyến vú (nguồn: Robert Llewellyn-CORBIS)
3. PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
Ung thư cổ tử cung là loại UT phổ biến, đứng thứ hai (sau UT vú) trong các UT ở nữ trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam. Trong khoảng ba thập kỷ qua, tỷ lệ mắc UT cổ tử cung đã giảm đáng kể ở hầu hết các nước phát triển nhờ chương trình sàng lọc tốt. Hầu hết các nước khuyến cáo phụ nữ sau khi bắt đầu quan hệ tình dục 3 năm nên khám sàng lọc UT cổ tử cung mỗi năm một lần. Phụ nữ từ 30 tuổi trở lên, sau khi đạt được 3 lần sàng lọc âm tính liên tiếp (xét nghiệm tế bào học cổ tử cung bình thường) có thể khám sàng lọc thưa hơn, 2-3 năm một lần. Những phụ nữ đã cắt tử cung bán phần (còn cổ tử cung) cũng cần đi khám sàng lọc.
Các biện pháp để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung gồm:
3.1. Khám phụ khoa
Thầy thuốc sẽ kiểm tra cổ tử cung cùng với khám các cơ quan khác trong vùng khung chậu. Người được khám cần nằm trên bàn khám phụ khoa. Thầy thuốc có thể sử dụng mỏ vịt (một dụng cụ để mở âm đạo) để quan sát cổ tử cung và lấy tế bào âm đạo làm xét nghiệm. Sau đó, thầy thuốc có thể sẽ khám phụ khoa bằng tay (một tay thăm trong kết hợp với một tay ở bên ngoài nắn vùng bụng dưới), khám hạch bạch huyết vùng (hạch bẹn). Khám phụ khoa cũng có thể tiến hành cùng thời điểm với khám vú.
3.2. Xét nghiệm tế bào học âm đạo
Phương pháp xét nghiệm học tế bào âm đạo còn có tên là xét nghiệm Pap, được thực hiện trong khi khám phụ khoa. Thầy thuốc sẽ lấy tế bào trên bề mặt cổ tử cung và âm đạo bằng một que gỗ hoặc que nhựa hoặc bàn chải nhỏ hoặc tăm bông. Các tế bào sẽ được phết lên một phiến kính, nhuộm và soi trên kính hiển vi. Phương pháp này khá chính xác, cho phép phát hiện những biến đổi rất sớm của tế bào.
Trong vòng 48 giờ trước khi làm xét nghiệm, người phụ nữ không nên thụt rửa âm đạo, không quan hệ tình dục, không đặt nút gạc, các loại bọt, keo tránh thai hoặc các loại kem, thuốc đặt âm đạo. Những ngày có kinh, phụ nữ không nên làm xét nghiệm này.
 
Hình ảnh lấy tế bào âm đạo
3.3. Nghiệm pháp axít axêtic
Nghiệm pháp axít axêtic hay còn gọi tắt là VIA là nghiệm pháp chấm cổ tử cung bằng dung dịch axít axêtic 3-5% và quan sát bằng mắt thường để phát hiện những bất thường bao gồm các tổn thương tiền ung thư. Đây là phương pháp đơn giản, rẻ tiền, tương đối chính xác, có hiệu quả cao để phát hiện sớm UT cổ tử cung. 
3.4. Nghiệm pháp lugol
Là nghiệm pháp chấm cổ tử cung bằng dung dịch lugol 5% và quan sát bằng mắt thường. Bình thường các tế bào bề mặt của cổ tử cung bắt màu nâu khi chấm dung dịch này. Nếu lớp tế bào này bị mất đi sẽ biểu hiện bằng màu vàng hoặc nâu nhạt. Đây cũng là phương pháp đơn giản, rẻ tiền, có hiệu quả.
4.5. Soi cổ tử cung
Sử dụng máy soi phóng đại hình ảnh cổ tử cung (từ 2 đến 25 lần) để quan sát tổn thương dễ dàng. Có thể soi cổ tử cung kết hợp chấm axít axêtic hoặc dung dịch lugol nói trên. Soi cổ tử cung khi các xét nghiệm nói trên bất thường, hoặc nghi ngờ bất thường khi kiểm tra bằng mắt thường.
Khi phát hiện các tổn thương nghi ngờ tại cổ tử cung, thầy thuốc sẽ làm sinh thiết (lấy một mảnh nhỏ, nhuộm, soi trên kính hiển vi) để chẩn đoán.
 
Hình ảnh soi cổ tử cung
4. PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ ĐẠI - TRỰC TRÀNG 
Ung thư đại - trực tràng có tỷ lệ mắc đứng hàng thứ ba và là nguyên nhân tử vong do UT đứng thứ hai ở nhiều nước trên thế giới. Bệnh gặp nhiều hơn ở các nước phát triển so với các nước đang phát triển. Tuy nhiên, UT đại - trực tràng đang có xu hướng tăng mạnh ở nước ta trong những năm gần đây.
Các biện pháp sàng lọc, phát hiện sớm UT đại - trực tràng bao gồm:
4.1. Xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân
Các pôlyp hoặc khối u ác tính của đại tràng và trực tràng dễ bị chảy máu khi phân đi qua. Khi máu chảy với số lượng ít sẽ không thể thấy được bằng mắt thường. Xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân có thể phát hiện được lượng máu nhỏ này. Một số loại thuốc, thức ăn có thể làm ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Do vậy, cần theo hướng dẫn của thầy thuốc trước khi làm xét nghiệm.
Những người có xét nghiệm máu ẩn trong phân dương tính sẽ có nguy cơ cao bị ung thư đại - trực tràng và cần được soi toàn bộ đại tràng.
Mọi người dân từ 50 tuổi trở lên cần làm xét nghiệm máu ẩn trong phân mỗi năm một lần. Những người có nguy cơ cao như tiền sử bản thân hoặc gia đình bị u tuyến, các hội chứng đa pôlyp hoặc ung thư đại - trực tràng, các bệnh viêm ruột,... nên được làm xét nghiệm máu ẩn trong phân cùng các biện pháp khác ở độ tuổi sớm hơn theo lời khuyên của thầy thuốc.  
4.2. Soi toàn bộ đại tràng
Soi toàn bộ đại tràng là phương pháp tốt nhất hiện nay trong sàng lọc ung thư đại - trực tràng. Dùng ống soi mềm có đầu soi để quan sát được toàn bộ đại tràng. Trong khi soi, nếu phát hiện các tổn thương nghi ngờ UT hoặc tiền UT, sẽ tiến hành sinh thiết hoặc lấy bỏ các tổn thương này để chẩn đoán và điều trị. Soi toàn bộ đại tràng cũng nên được bắt đầu ở độ tuổi 50, cùng với làm xét nghiệm máu ẩn trong phân. Tùy thuộc vào tổn thương được phát hiện khi soi mà khoảng cách các lần soi sau có thể từ 3-10 năm một lần.
Hình ảnh soi đại - trực tràng
4.3. Thăm trực tràng bằng tay
Trước đây, phương pháp này được đề xuất trong sàng lọc UT trực tràng. Nếu chỉ dùng đơn thuần phương pháp này sẽ bỏ sót các bất thường trong đại tràng bao gồm cả UT.
5. PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT
Ung thư tuyến tiền liệt gặp nhiều ở các nước phát triển hơn so sới các nước đang phát triển. Ngày nay, tỷ lệ chết do bệnh này giảm rõ rệt nhờ khám sàng lọc phát hiện sớm.
Để phát hiện sớm, nên khám tuyến tiền liệt qua thăm trực tràng bằng tay kết hợp với xét nghiệm PSA hàng năm (PSA là chất chỉ điểm u đặc hiệu trong UT tuyến tiền liệt) cho nam giới từ 50 tuổi trở lên. Ngoài ra, có thể kết hợp với siêu âm, nội soi trực tràng và chụp cắt lớp vi tính vùng tiểu khung để xác định chính xác hơn.
6. PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ KHOANG MIỆNG
Ung thư khoang miệng là loại UT hay gặp của vùng đầu cổ, liên quan nhiều tới hút thuốc lá, ăn trầu, uống rượu,... Để có thể phát hiện sớm, mỗi người nên quan sát khoang miệng qua soi gương mỗi khi đánh răng hàng ngày. Khi thấy những vết, mảng hơi đỏ hoặc trắng ở niêm mạc miệng, vết thương ở khoang miệng khó liền, chảy máu ở khoang miệng, vết loét hoặc những nốt sùi, há miệng bị hạn chế, sờ thấy u, cục bất thường ở vùng đầu cổ cần đến bác sĩ chuyên khoa khám.
 
Hình ảnh khối u trong khoang miệng
Nên đi khám kiểm tra UT khoang miệng 3 năm một lần đối với người trên 20 tuổi và hàng năm đối với những người trên 40 tuổi, đặc biệt những người hút thuốc lá, thuốc lào. Ngoài quan sát trực tiếp hoặc qua gương, thầy thuốc có thể kết hợp kiểm tra bằng tay đeo găng. 
7. PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ DA
Ung thư da là một trong các UT thường gặp, dễ chẩn đoán bằng mắt thường, có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm. Để phát hiện sớm, mọi người có thể tự quan sát toàn bộ da cơ thể, đặc biệt là các vùng da hở, tốt nhất là sau mỗi lần tắm.
Những biểu hiện của ung thư da có thể là: vết loét dai dẳng, thỉnh thoảng chảy máu, nổi cục có thể ở vùng da bị sừng hóa do ảnh hưởng của ánh nắng mặt trời hoặc do tia xạ hoặc ở một vết sẹo hoặc đường rò hay đơn giản chỉ là một vết đốm đỏ nhạt kéo dài dai dẳng với xước trợt nhẹ.
Một loại UT da là UT hắc tố rất hay liên quan đến các nốt ruồi. Cần lưu ý các dấu hiệu như: thay đổi về màu sắc, hình dạng, kích thước, đường viền, bề mặt các nốt ruồi hoặc có cảm giác ngứa, chảy máu hoặc chảy nước vàng ở nốt ruồi.
 
Hình ảnh ung thư da
Để phát hiện sớm bệnh UT da, mọi người nên đi khám định kỳ 3 năm một lần ở độ tuổi 30-39 và khám hàng năm sau tuổi 40. Những người có nguy cơ cao là tiền sử gia đình hoặc bản thân bị UT da, bị những bệnh da có nguy cơ chuyển thành UT hoặc những người thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng mặt trời cần đi khám đều đặn.
8. PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ TUYẾN GIÁP
Có thể phát hiện sớm nhiều trường hợp ung thư tuyến giáp. Trong hầu hết các trường hợp, người bệnh tự phát hiện ra một khối u hoặc khối hạch ở cổ nên đi khám. Một số lại phát hiện ra bệnh khi khám sức khỏe định kỳ. Cũng có những trường hợp không biểu hiện gì cho đến khi bệnh đã ở giai đoạn muộn.
Nếu có một trong những biểu hiện bất thường dưới đây thì nên đi khám ngay: phát hiện thấy một khối u ở cổ hoặc thấy cổ to ra, đau ở vùng trước cổ, khàn tiếng hoặc thay đổi giọng nói kéo dài, khó thở hoặc ho kéo dài.
Nên tự khám cổ của mình 2 lần trong một năm để xem có khối u nào ở cổ không. Đặc biệt, nếu có một khối u ở tuyến giáp và có kèm theo một trong những yếu tố dưới đây: nam giới, sống gần biển, khối u đặc trên siêu âm hoặc có tiền sử xạ trị vùng đầu khi còn nhỏ.
9. PHÁT HIỆN SỚM CÁC UNG THƯ KHÁC
Ung thư dạ dày: khó sàng lọc phát hiện sớm. Tuy nhiên, những người có nguy cơ cao (tiền sử viêm loét dạ dày, đau vùng thượng vị, ậm ạch khó tiêu, nôn hoặc buồn nôn,… điều trị nội khoa không khỏi) cần soi dạ dày để phát hiện UT.
Ung thư gan: khó sàng lọc phát hiện sớm. Chiến lược phòng chống UT gan là tiêm vắc xin phòng viêm gan B, hạn chế uống rượu. Những người có nguy cơ cao (tiền sử viêm gan B, xơ gan, nghiện rượu, nhiễm chất độc dioxin) cần siêu âm gan và xét nghiệm máu định lượng chất chỉ điểm khối u (AFP) định kỳ 3 – 6 tháng một lần để phát hiện UT gan.
Ung thư phổi: khó sàng lọc phát hiện sớm. Chiến lược phòng chống UT phổi chủ yếu là không hút thuốc lá, thuốc lào. Những người có nguy cơ cao (nghiện thuốc), có thể làm xét nghiệm tìm tế bào ác tính trong đờm, xét nghiệm máu tìm một số chất chỉ điểm khối u (CEA, cifra 21-1, SCC...) và chụp X quang phổi hàng năm.
Ung thư buồng trứng: khó phát hiện sớm. Trong nhiều trường hợp, người phụ nữ không hề có triệu chứng gì cho đến khi bệnh phát triển đến giai đoạn muộn. Hiện đang thử nghiệm đo nồng độ chất CA-125 ở trong máu. Chất này thường tăng cao ở những bệnh nhân UT buồng trứng. Siêu âm qua đường âm đạo, một xét nghiệm có thể giúp phát hiện bệnh sớm, đang được đánh giá.
Ung thư xương: rất khó phát hiện sớm. Trẻ sau 12 tuổi có chiều cao phát triển nhanh hơn trẻ cùng độ tuổi cần được quan tâm nếu có triệu chứng đau vô cớ trong xương. Khởi đầu, đau thường mơ hồ, sau đó đau rõ từng đợt ngắn trong xương gây rất khó chịu. Đau thường xuất hiện ở đầu trên hoặc đầu dưới xương đùi, đầu trên xương chày, đầu trên xương cánh tay, xương chậu, xương bả vai.
10. CÁC DẤU HIỆU BÁO ĐỘNG CỦA UNG THƯ
 Một số dấu hiệu báo động chung cho các loại UT:
1. Vết loét lâu liền.
2. Ho dai dẳng, tức ngực, điều trị không đỡ.
3. Chậm tiêu, khó nuốt.
4. Thay đổi thói quen bài tiết phân, nước tiểu.
5. Có khối u ở vú hay ở trên cơ thể.
6. Hạch bạch huyết to không bình thường.
7. Chảy máu, dịch ra bất thường ở âm đạo.
8. Ù tai, nhìn đôi.
9. Gầy sút, thiếu máu không rõ nguyên nhân.
Khi có các dấu hiệu nêu trên, không có nghĩa là đã mắc bệnh UT. Tuy nhiên, nếu có bất kỳ một trong các dấu hiệu đó, cần đến ngay các cơ sở y tế chuyên khoa để được khám, điều trị và được nhận những lời khuyên thiết thực.
 

 

0 Bình luận

Tin cùng chuyên mục

Địa chỉ: Tầng 5 - Nhà D, 43 Quán Sứ, Hoàn Kiếm, Hà Nội | Hotline: 091 393 6658 | Tel : 04 6680 6969 | Fax: 04 3978 5596